XƯA NAY LÀ TẤT CẢ. TRI THỨC VÀ CUỘC ĐỜI. VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI. CÙNG HÒA CHUNG NHỊP SỐNG

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Ô DẠ ĐỀ



                        Ô DẠ ĐỀ
                   Lý Bạch 701-762)
    Phiên âm:
        Hoàng vân thành biên ô dục thê,
        Quy phi ắ ắ chi thượng đề.
        Cơ trung chức cẩm Tần Xuyên nữ,
        Bích sa như yên cách song ngữ.
        Đình thoa trướng nhiên ức viễn nhân,
        Độc tú không phòng lệ như vũ.
Dịch thơ:
                               TIẾNG QUẠ KÊU ĐÊM
       Hoàng hôn quạ mải cánh bay,
       Vang vang tiếng vọng giục bày kêu sương.
       Cô gái dệt lụa Tần Xuyên,
       Lụa tơ óng ả vấn vương cảnh đời.
      Dừng tay chợt nhớ tới người,
       Một mình hưu quạnh lệ rơi tuôn dòng.
             Huudoandongtrieu 4-2012

TÂY THI THẠCH



                                   TÂY THI THẠCH     
                                         (Lâu Dĩnh)
        Phiên âm:
            Tây Thi tích nhật cán sa tân,
            Thạch thượng thanh đài tứ sát nhân.
             Nhất khứ Cô Tô bất phục phản,
                 Ngạn bàng đào lý vị thuyd xuân.
        Dịch thơ:
                            ĐÁ TÂY THI
            Tây Thi xưa giặt bến nay,
             Rêu xanh trên đá ố dầy não thay!
             Cô Tô dĩ vãng có hay,
             Ven bờ đào lý nở đầy cùng ai?
                Huudoandongtrieu 4-2012

KIM LŨ Y



                                                 KIM LŨ Y
                                             (Đỗ Thu Nương)
   Phiên âm:
          Khuyến quân mạc tích kim lũ y,
          Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.
          Hoa khai kham chiết trực tu chiết,
          Mạc đãi vô hoa,không chiết chi.
  Dịch thơ:
      ÁO DỆT VÀNG CŨ

           Aó dệt vàng xưa chàng tiếc chi!
            Khuyên chàng nên tiếc tuổi đương thì.
            Hoa đang độ nở hoa thơm mát,
            Chớ để hoa tàn bẻ vứt đi.
        Huudoandongtrieu 4-2012

TĨNH DẠ TƯ



                                     TĨNH DẠ TƯ
                                          (Lý Bạch 701-762)
Phiên âm:
 Sàng tiền khán nguyệt quang,
 Nghi thị địa thượng sư
 Cử đầu vọng minh nguyệt,
 Đê đầu tư cố hương.
Dịch thơ:
              ĐÊM THANH VẮNG TƯỞNG NHỚ

         Trăng sáng mênh mông trải trước giường,
         Ngỡ rằng mặt đất phủ đầy sương.
         Ngẩng đầu ngắm nguyệt niềm tâm sự,
         Cúi mặt nghĩ hòai chuyện cố hương. 
                 Huudoandongtrieu 4-2012

HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ



                                   HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ
                                         (Hạ Tri Chương)
    Phiên âm:
    Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,
    Hương âm vô cải mấn mao tồi,
    Nhi đồng tương kiến bất tương thức,
    Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.
  Dịch thơ:
                                        THƠ VỀ QUÊ .
      Xa quê từ nhỏ nay về,
          Giọng quê không đổi tóc huê mất rồi.
      Gặp ta trẻ nhỏ chỉ cười,
         Chụm đầu thỏ thẻ hỏi người đâu ta?...
Huudoandongtrieu 4-2012
Chú thích:
Hạ Tri Chương( 659-744) là ngườiCối Kê,tỉnh Chiết Giang,cùng với Trương Húc,Trương Nhược Hư,Bao Dung là “4 nhà thơ đất Ngô Trung” bạn của Lý Bạch,làm quan đến chức thị lang bộ công,học sĩ tập hiền viện,từ quan về làng tự xưng là “cuồng khách”

VÔ ĐÈ



              (Lý Bạch 701-762)
Phiên âm:
Sinh giả vi quá khách,
Tử giả vi quy nhân,
Thiên địa nhất nghịch lữ,
Đồng bi vạn cổ trần.
Dịch thơ: VÔ ĐỀ
Sống là khách qua đường,
Chết chẳng chút vấn vương,
Trời đất là quán trọ,
Cùng nhau vạn khổ trần.
                           Huudoandongtrieu 4-2012

VẤN HOÀI THỦY


        (Bạch Cư Dị 772-846)
Phiên âm:
      Tự ta danh lợi khách,
      Nhiễu nhiễu tại nhân gian.
      Hà sự trường Hoài thủy,
      Đông lưu diệc bất nhàn.
Dịch thơ:
                      HỎI NƯỚC SÔNG HOÀI
 
       Ngán thay số kiếp hám công danh,
       Thế thái nhân tình cứ quẩn quanh.
        Hỏi nước sông Hoài sao chảy mải?
       Về Đông xuôi mái mãi yên lành.
            Huudoandongtrieu -4-2012